Chữa Rối loạn tiền đình phải Bình can - Hoạt huyết


Tố vấn chí chân yếu đại luận viết : "chư phong tác huyễn giai vu thuộc can" ý nói các loại phong gây huyễn vựng đều do can phong nội động sinh ra, chữa can là chính

Đan khê tâm pháp viết : "vô đờm bất tác huyền" nghĩa là không có đờm thì không gây huyễn vựng cho nên ông chủ trương chữa đờm là chính

 

Rối loạn tiền đình là bệnh chứng thường gặp nhiều ở những người thuộc lứa tuổi trung niên hay người già. Bệnh xảy ra thường không có dấu hiệu báo trước. Chứng rối loạn tiền đình, đông y gọi là “Huyễn Vựng”. Là một chứng chứ không phải là một tên bệnh. Rối loạn tiền đình do nhiều nguyên nhân gây ra và biểu hiện của bệnh thường thấy là đầu quay cuồng, hoa mắt chóng mặt, hoặc cảm thấy trong ngực muốn nôn, thậm chí tim đập nhanh, có cảm giác chóng mặt như người bị say sóng, nhìn mọi vật xung quanh bị chao đảo, có khi bị lộn ngược.

 

Huyễn là hoa mắt, vựng là chóng mặt, chòng chành mọi vật xoay chuyển, nghiêng ngả không yên người như muốn ngã. Dân gian thường gọi chung là hoa mắt chóng mặt. Nhẹ thì hết ngay khi nhắm mắt, nặng thì kèm thêm buồn nôn, nôn, toát mồ hôi, ngã lăn ra. . .

 

roi loan tien dinh

 Chữa Rối loạn tiền đình là phải bình can- hoạt huyết


Dựa trên nguyên nhân cũng như triệu chứng của bệnh mà chứng huyễn vựng được chia làm 2 loại chính là:


Thực chứng: Chứng huyễn vựng – rối loạn tiền đình là do can hỏa hóa phong rồi bốc lên mà sinh bệnh là chủ yếu. Cũng có thể do đờm thấp đình trệ, mà làm khí thanh dương không đưa lên được sinh ra bệnh. Một số biểu hiện của chứng này là nóng khát, đại tiện táo bón, nước tiểu vàng, đầu óc quay cuồng, buồn nôn, khi bắt mạch thấy có lực, và bệnh nhân nếu thuộc chứng này thì vẫn ăn uống được.


Hư chứng: Nếu huyễn vựng do nguyên nhân can, thận, tâm, tỳ suy, thận kém nên không nuôi dưỡng được can huyết mà làm cho can dương vượng lên khiến phát sinh bệnh. Bệnh nhân rối loạn tiền đình thuộc chứng hư thì ngoài biểu hiện đau đầu, mặt mày xây xẩm thì mỗi khi lao động thì lại bị hoa mắt, chóng mặt, người xanh xao, ăn kém, ngủ kém, mạch vô lực.

 

Sử sách ghi chép:

  • Tố vấn chí chân yếu đại luận viết : "chư phong tác huyễn giai vu thuộc can" ý nói các loại phong gây huyễn vựng đều do can phong nội động sinh ra, chữa can là chính

 

  • Hà gian lục thư ghi: "phong hoả giai dương, dương đa kiêm hoả, dương chủ hô động, lưỡng dương tương bác tắc vi tuyền chuyển" ý nói phong và hoả đều thuộc dương, dương thường kiêm hoả, dương chủ về động, hai dương ( phong và hoả ) tương bác với nhau tất gây ra huyễn vựng, chữa hoả là chính

 

  • Đan khê tâm pháp viết : "vô đờm bất tác huyền" nghĩa là không có đờm thì không gây huyễn vựng cho nên ông chủ trương chữa đờm là chính

 

  • Hải Thượng Lãn Ông trong y trung quan kiện viết: "bệnh chóng mặt trong phương thư đều chia ra phong, hàn, thử, thấp, khí, huyết, đờm để chữa, đại ý không ngoài chữ hoả. Âm huyết hậu thiên hư thì hoả động lên, chân thuỷ tiên thiên suy thì hoả bốc lên, bệnh nhẹ thì chữa hậu thiên, bệnh nặng thì chữa tiên thiên".

 

  • Cảnh Nhạc toàn thư viết : "vô hư bất tác huyễn, vô hoả bất tác vựng", nghĩa là không hư thì không hoa mắt, không có hoả thì không gây chóng mặt vậy huyễn vựng là do hư hợp với hoả gây nên, phép chữa bổ hư giáng hoả.

 

  • Theo YHHĐ huyễn vựng (hội chứng me-ni e) có thể do rất nhiều bệnh khác nhau như cao huyết áp, xơ cứng động mạch não, thiếu máu, suy nhược thần kinh, rối loạn tiền đình, bệnh ở não, bệnh ở tai trong . . .

 

Tóm lại người xưa cho rằng bệnh này thường do phong, hoả, đờm và hư gây nên. Trên lâm sàng có thể chia bệnh làm 5 thể là can dương thượng kháng, đờm trọc trung trở, thận tinh bất túc, khí huyết hư, thuỷ ẩm ứ đọng.

 

roi loan tien dinh

Điều trị Rối loạn tiền đình theo đông y

1. Can dương thượng kháng

+ Nguyên nhân: 

*  Can dương vốn thịnh, dương khí bốc lên gây chóng mặt.

*  Tình chí uất ức lâu ngày, uất lâu hoá hoả làm can âm hao tổn, can dương thượng kháng, nhiễu loạn thanh không gây chóng mặt.

*  Thận thuỷ hư không nuôi dưỡng được can mộc, làm can âm hư, can dương thượng kháng gây chóng mặt.

=> Ba nguyên nhân này có thể là nhân quả lẫn nhau như can dương thịnh sẽ làm can âm hư tổn, can âm hư tổn lâu ngày sẽ làm thận âm cũng hư tổn, thận âm hư tổn ngược lại sẽ làm cho can âm càng hư tổn thêm mặt khác can dương thịnh can âm suy sẽ làm cho người ta tình chí hay cáu giận uất ức, uất lâu lại hoá hoả..vì vậy trong khi điều trị nên đồng thời chú ý dự phòng cả 3 nhân tố trên ( trị vị bệnh ) 

 

+ Triệu chứng:

Huyễn vựng, ù tai, đau đầu, căng mắt, mặt lúc đỏ lúc không, cáu gắt, ngủ ít mơ màng, miệng đắng, lưỡi đỏ rêu vàng hoặc ít rêu, mạch huyền, huyền tế đới sác, khi giận dữ thì bệnh nặng lên.

 

+ Phân tích: 

Huyễn vựng, ù tai, đau đầu căng mắt là do can dương thượng cang nhiễu loạn thanh khiếu, dương thăng bập bùng nên mặt lúc đỏ lúc không, mạch huyền, miệng đắng, lưỡi đỏ rêu vàng, là biểu tượng của can dương vượng, lưỡi đỏ ít rêu, ít ngủ mơ màng mạch huyền tế đới sác là âm hư hoả viêm, khi giận dữ thì bệnh nặng lên là vì khi giận thì can khí nghịch lên trợ hoả thượng cang.

 

+ Dưỡng sinh : 

*  Nên tập nằm thư giãn để tăng cường khả năng ức chế (bổ âm)

*  Giữ cho tâm tình được thư thái, tránh những kích thích về tâm lý, như cáu giận, căng thẳng, đối địch, cố chấp... Người bệnh có thể thay đổi hoàn cảnh công tác, không nên đòi hỏi quá cao, mở rộng xã giao, cởi mở tâm tình, đi du lịch, nghe nhạc nhẹ nhàng . . .

*  Không nên ăn các đồ ăn kích thích như ớt, thịt chó, đồ nướng cháy, uống rượu, cà phê, thuốc lá . . .

*  Nên ăn thanh đạm, nhiều rau tươi, hoa quả mát như lê, táo. . . 

 

2. Thể khí huyết hư 

+ Nguyên nhân: 

Người bị bệnh lâu ngày không khỏi, hoặc mới bị bệnh nặng, hoặc mới mổ, mới sinh con khí huyết bị hao tổn hoặc mất máu, hư không hồi phục, hoặc tỳ vị hư nhược không sinh được khí huyết làm khí huyết đều hư. Khí hư thì thanh dương không lên được não, huyết hư thì não không được nuôi dưỡng đều gây nên huyễn vựng 

 

+ Triệu chứng:

Sắc mặt xanh hoặc vàng úa, hồi hộp, ngủ ít, mệt mỏi, hay quên ăn kém, lưỡi nhạt ít rêu, móng tay móng chân không tươi, chóng mặt hoa mắt, mệt mỏi, tiếng nói nhỏ, ngại nói, kinh nguyệt không đều, lượng ít, sắc nhạt mạch tế nhược.  

 

+ Dưỡng sinh:

Tránh lo nghĩ, vì lo nghĩ sẽ làm hại đến tỳ, làm tiêu hao khí huyết, mất ngủ. Bệnh càng thêm nặng

 

 3. Đàm trọc trung trở 

+ Nguyên nhân:

Do ăn nhiều thứ béo ngọt làm tỳ vị bị tổn thương không vận hoá được đồ ăn thành tinh chất để nuôi cơ thể mà đọng tụ lại thành đờm thấp. Đờm thấp ngăn trở làm thanh dương không thăng, trọc âm không giáng gây huyễn vựng 

 

+ Triệu chứng: 

Người béo trệ, chóng mặt, lợm giọng buồn nôn, ngực bụng đầy buồn, đầu nặng, ngủ li bì, ăn kém, sáng dậy khạc đờm, miệng nhạt, Lưỡi non bệu rêu dính, mạch nhu hoạt 

 

+ Dưỡng sinh :

*  Nên tập các động tác xoay mình vặn sườn qua lại, xoa lườn, xoa bụng . . . có tác dụng kiện tỳ tiêu đờm

*  Nên ăn bí đao, dứa, khoai sọ, sứa biển, lươn, trạch, ý dĩ, có tác dụng lợi thuỷ, long đờm  

*  Nên ăn uống thanh đạm, kiêng các loại đồ ăn quá béo, quá ngọt dễ sinh đờm  

 

4. Thận hư 

+ Triệu chứng:

*  Huyễn vựng, tinh thần mệt mỏi, hay quên, lưng mỏi chân yếu, di tinh, ù tai, mất ngủ, nhiều mộng

*  Nếu thiên về dương hư thì chân tay lạnh, lưng lạnh, tinh thần uỷ mị, lưỡi nhạt, mạch trầm tế

*  Nếu thiên về âm hư thì ngũ tâm phiền nhiệt, lưỡi đỏ ít rêu, mạch huyền tế 

*  Nếu thiên về dương hư thì sinh hàn nên chân tay lạnh, lưỡi nhạt, mạch trầm tế

*  Nếu thiên về âm hư thì sinh nội nhiệt nên ngũ tâm phiền nhiệt, lưỡi đỏ, mạch huyền tế 

 

+ Dưỡng sinh:

*  Massge vận động vùng đầu, lưng mông và bụng dưới (các huyệt Thận du, Mệnh môn, Chí thất, Quan nguyên, Khí hải...)

*  Giảm bớt tình dục để bảo tồn tinh khí

Cùng tham khảo Điều trị và dự phòng bệnh Rối loạn tiền đình và điều trị Rối loạn tiền đình kết hợp Đông Tây Y

 

 

đặt mua tiền đình bảo khang


http://roiloantiendinh.com.vn/


Chuyên gia tư vấn


Tiến sỹ, Lương y Nguyễn Hoàng (Đại học Dược Hà Nội)
1800.1038

0972.132.888